Những năm 1975-1980, tôi và em gái học cấp 1 cấp 2 Trưng Vương ở phố Hàng Bài, đối diện rạp Kim Đồng. Nhà nghèo, bố mẹ là công chức nhà nước lương ba cọc ba đồng, nhưng hễ nghe tin Rạp Kim Đồng có phim mới dành cho thiếu nhi là bố lại nói: “Phải đi xếp hàng mua vé cho các con.” Ngày nào đi học về cũng đi qua mặt Rạp Kim Đồng, nên phim mới ra lò là chúng tôi biết ngay.
Rap Kim Đồng nằm ở góc phố Hàng Bài và Hai Bà Trưng, xung quanh giáp với nhà dân. Có những cậu bạn học chung với tôi nhà ở sát rạp, chuyên nhảy qua tường vào xem phim “chùa”. Bản thân cái tên Rạp Kim Đồng đã làm cho người ta hiểu rằng nó là rạp chiếu phim cho thiếu nhi, khác với Rạp Tháng Tám, Công Nhân, Long Biên, Đại Đồng…ở Hà nội thời đó.
Đi qua một cái sân rộng thì tới quầy bán vé, có tấm kính ngăn cách chỉ chừa ra một ô nhỏ để cô bán hàng cầm tiền và đưa vé. Sàn đá hoa với họa tiết hoa thị đỏ và nâu viên vỡ viên lành, tôi vẫn nhớ mãi.
Hai chị em cùng xếp hàng với bố, nhìn dòng người tiến lên từng chút một mà tim đập thình thịch, chỉ sợ xếp hàng đến nơi thì hết vé. Phe vé lâu nhâu đứng xung quanh, thời ấy phe vé xem phim là một nghề nhé, kiếm ra phết. Mất thời gian xếp hàng và mặt trơ tí thôi, nhưng lãi gấp 2 gấp 3 là thường.
Cô bán vé ngồi sau ô cửa kính nhỏ, tay thoăn thoắt. Cô viết số ghế, giờ chiếu lên tấm vé mỏng chỉ nhỏ bằng bao diêm, rồi xé “rẹt” một đường theo hàng lỗ kim. Âm thanh ấy sao mà vui đến thế!
Khoảnh khắc cầm tấm vé còn thơm mùi giấy mới trên tay, tôi thấy sung sướng như vừa nhận được một báu vật.
Vé phải mua trước buổi chiếu cả ngày, thậm chí vài ngày. Mang về nhà, mẹ dặn:
“Cất kỹ vào ngăn tủ, đừng làm nhàu, đừng làm mất.”
Hai chị em cứ mở ra xem đi xem lại, đếm ghế, tưởng tượng chỗ mình sẽ ngồi.
Ngày được đi xem phim, chúng tôi dậy sớm hơn thường lệ. Học bài cũng nhanh hơn. Cả ngày thấp thỏm chờ đến chiều.
Chiều về, hai chị em ăn cơm thật sớm, rửa bát thật nhanh. Tôi lau bàn, em tôi xếp ghế, làm việc gì cũng thoăn thoắt. Mẹ cười:
“Hôm nay chăm thế không biết!”
Chúng tôi mặc quần áo tươm tất nhất , mang theo chiếc quạt giấy nếu trời hè, soi gương, chỉnh lại cổ áo cho nhau, thấy mình như người lớn hẳn.
Nhà chúng tôi ở phố Hai Bà Trưng, cách rạp chỉ vài trăm mét nên cả nhà đi bộ. Con đường ấy ngày thường quen thuộc, nhưng tối hôm đi xem phim lại trở nên đặc biệt. Đèn đường vàng vọt, đó đây những người ở xa đi xe đạp tới xem, xếp hàng dắt bộ vào gửi ngay vỉa hè.
Trước khi vào rạp, mẹ rút trong túi áo ra mấy hào lẻ đã để dành sẵn. Hai chị em hân hoan chạy lại quầy hàng trên chiếc xe bốn bánh nhỏ của cụ bà ngồi ngay mặt phố Hàng Bài
Vài hào táo dầm chua chua ngọt ngọt.
Vài hào ô mai mơ gừng cay đến lè lưỡi.
Chúng tôi nâng niu gói giấy nhỏ ấy như một phần thưởng riêng, đem vào rạp “chén” dần trong bóng tối.
Xòe 4 chiếc vé cho cô xé vé, chúng tôi vén những tấm màn nhung nằng nặng ở lối vào của Rạp Kim Đồng, thứ vải dày sẫm màu đã sờn ở mép vì bao nhiêu bàn tay trẻ nhỏ kéo qua kéo lại. Mùi vải cũ, mùi gỗ, mùi bụi và cả mùi táo dầm, ô mai hòa lẫn vào nhau – một thứ mùi rất riêng của rạp chiếu phim thời ấy.
Đèn trong rạp vẫn còn sáng. Ánh đèn vàng hắt xuống những hàng ghế gỗ cũ kỹ màu nâu sậm, không có đệm. Hai chị em len lỏi giữa các hàng ghế, vừa đi vừa nhìn lên những con số sơn trắng ở đầu dãy, miệng lẩm nhẩm số ghế in trên tấm vé mỏng.
“Tới rồi! Ghế của mình đây!”
Chúng tôi ngồi giữa, bố mẹ ngồi hai bên. Có lần đen đủi, chiếc ghế của tôi bị long ốc, hơi nghiêng nghiêng sang một bên. Mỗi lần nhúc nhích lại nghe “cọt kẹt”. Tôi phải giữ thăng bằng, ngồi thẳng lưng, chân chống nhẹ xuống sàn.
Nhưng không sao. Chuyện nhỏ thôi.
Niềm vui được xem phim lớn hơn tất cả. Nó che lấp cái ghế chênh vênh, che lấp cái nóng mùa hè hay cái lạnh mùa đông len qua khe cửa. Tôi nhìn quanh: những khuôn mặt trẻ con háo hức, những bàn tay cầm gói quà vặt gói trong giấy báo, tiếng xì xào rì rầm như ong vỡ tổ.
Rồi đèn bắt đầu dịu xuống.
Cả rạp chùng lại. Tiếng nói chuyện nhỏ dần
Và khi màn hình bừng sáng, mọi thứ xung quanh – ghế gỗ cứng, con ốc long, cả thế giới chật chội ngoài kia – đều tan biến. Chỉ còn lại hai chị em, ngồi giữa rạp chiếu phim cũ kỹ, nhưng lòng đầy ắp một thứ hạnh phúc giản dị mà suốt đời không quên được.
Thời ấy là thời của những cuốn phim từ các nước phe xã hội chủ nghĩa. Với hai chị em tôi, thế giới cổ tích, phép màu và những chân trời xa xôi mở ra từ chính màn ảnh của Rạp Kim Đồng.
Phim Liên Xô có Ruslan và Ludmila – câu chuyện cổ tích lung linh với hiệp sĩ, phù thủy và nàng công chúa xinh đẹp. Tôi ngồi mà quên cả chớp mắt, tưởng như mình cũng đang cưỡi ngựa băng qua khu rừng tuyết trắng.
Phim Tiệp Khắc có Mai ca cô gái từ trên trời rơi xuống – cô gái kỳ lạ, trong trẻo như một giấc mơ. Em tôi thì thầm: “Chị ơi, giá mà em cũng có phép bay xuống sân trường như thế…” Tôi bật cười, nhưng trong lòng cũng ước ao không kém.
Phim Đức có Con ngỗng vàng, vui nhộn mà sâu sắc. Cả rạp cười rúc rích khi những nhân vật dính chặt vào nhau vì lòng tham và sự tò mò.
Chúng tôi còn được xem phim hoạt hình mở đầu buổi chiếu, mà nếu may mắn sẽ được xem “Hãy đợi đấy” của Liên Xô.
Chỉ cần nhạc dạo quen thuộc vang lên, cả rạp như vỡ tung. Lũ trẻ nghiêng ngả cười theo từng trò đuổi bắt của Sói và Thỏ. Mỗi lần Sói huênh hoang rồi lại bị “quê độ”, tiếng cười bật lên rào rào như sóng. Tôi cười đến đau cả bụng, em tôi thì vỗ tay lộp bộp, mắt long lanh.
Giữa những năm tháng còn nhiều thiếu thốn, những cuốn phim ấy không chỉ là giải trí. Chúng mang đến cho hai chị em tôi một thế giới rộng lớn hơn căn phòng 16m2 chật chội, rộng hơn cả những con phố quen thuộc quanh phố cổ.
Màn ảnh mở ra những công chúa váy dài lấp lánh, những hoàng tử dũng cảm, những lâu đài phủ tuyết trắng huyền bí đến nín thở. Có những bữa tiệc thịnh soạn trong cung vua, bàn dài ngập ánh nến, trái cây chất cao như núi – những thứ mà lũ trẻ con thời bao cấp như chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy qua phim.
Tôi ngồi quên cả chiếc ghế gỗ cứng dưới lưng. Em tôi quên cả vị mơ gừng cay còn sót lại trên đầu lưỡi. Mỗi khung hình như một phép màu, kéo chúng tôi ra khỏi căn nhà nhỏ, khỏi những bữa cơm đạm bạc, khỏi tiếng loa phát thanh buổi sáng quen thuộc.
Khi đèn bật sáng trở lại, cả rạp xôn xao. Người lớn gọi con, trẻ nhỏ còn ngoái lại nhìn màn hình như chưa muốn rời. Hai chị em bước ra ngoài, vén lại tấm màn nhung, lòng vẫn còn lơ lửng ở đâu đó giữa lâu đài tuyết trắng và khu vườn cổ tích.
Trên đường về nhà, chúng tôi vừa đi vừa kể lại từng cảnh phim, tranh nhau xem ai nhớ rõ hơn. Những hình ảnh sống động ấy theo chúng tôi suốt nhiều ngày sau – trong giờ học, trong lúc quét nhà, rửa bát, hay khi ngồi vào bàn làm bài tập dưới ánh đèn vàng. Bố luôn luôn giao bài tập cho chúng tôi, viết một bài văn về buổi xem phim, và chúng tôi hoàn thành ngon ơ, dễ dàng, thích thú.
Với lũ trẻ thời bao cấp nghèo khó, những cuốn phim không chỉ là giải trí. Chúng như một nguồn năng lượng bí mật, tiếp sức cho chúng tôi cố gắng hơn. Học chăm hơn. Ngoan hơn. Làm việc giúp bố mẹ nhiều hơn.
Bởi trong lòng, chúng tôi biết: nếu ngoan, nếu học tốt, khi tấm pano lớn bên ngoài Rạp Kim Đồng công bố một bộ phim mới toanh – màu sắc rực rỡ, tên phim in đậm nổi bật – thì chúng tôi có thể hoàn toàn tự tin, hãnh diện mà xin bố mẹ:
“Bố mẹ cho chúng con đi xem phim nhé!”
Và khoảnh khắc ấy, khi bố gật đầu, mẹ mỉm cười – giấc mơ tuổi thơ lại một lần nữa bắt đầu, với buổi tối ấm áp trong rạp chiếu phim nhỏ giữa lòng Hà Nội, trong vòng tay yêu thương của bố mẹ
Bây giờ nghĩ lại, tôi mới hiểu:
Bố mẹ nghèo thật, xã hội khi ấy đơn sơ và giản dị thật, nhưng tuổi thơ của chúng tôi ở Rạp Kim Đồng thì giàu có và lộng lẫy vô cùng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *